Đang tải dữ liệu...

Chênh lệch nhiệt độ - thủ phạm gây ra sự chênh lệch về thời gian trong các thực nghiệm kiểm chứng thời gian giãn ra

Cập nhật lúc 08h06' ngày 26/12/2009

Thuyết tương đối hẹp cho rằng trong các hệ quy chiếu chuyển động, thời gian sẽ giãn ra. Nếu hai chiếc đồng hồ chạy đồng bộ với nhau thì khi đặt chúng vào trong hai hệ quy chiếu chuyển động với tốc độ khác nhau, chiếc đặt trong hệ quy chiếu chuyển động nhanh sẽ chạy chậm lại do thời gian giãn ra.

Để kiểm chứng giả thuyết về sự giãn ra của thời gian, nhiều thực nghiệm đã được tiến hành và sự chênh lệch thời gian giữa các đồng hồ đã xuất hiện. Thực nghiệm đầu tiên được tiến hành năm 1937 bằng việc đặt hai chiếc đồng hồ chính xác trên hai chiếc phi cơ bay theo hai hướng đông và tây. Kết quả thực nghiệm cho thấy chiếc đồng hồ trên chiếc máy bay bay về hướng tây chậm hơn chiếc trên máy bay bay về hướng đông.

Thực nghiệm thứ hai được tiến hành năm 1962, xin trích dẫn về thực nghiệm này được viết trong Lược sử thời gian của Stephen Hawking: “Một tiên đoán khác của thuyết tương đối rộng là thời gian dường như chạy chậm hơn khi ở gần những vật có khối lượng lớn như trái đất. Đó là bởi vì một mối liên hệ giữa năng lượng của ánh sáng và tần số của nó (tần số là sóng ánh sáng trong một giây): năng lượng càng lớn thì tần số càng cao. Khi ánh sáng truyền hướng lên trong trường hấp dẫn của trái đất, nó sẽ mất năng lượng và vì thế tần số của nó giảm. (Điều này có nghĩa là khoảng thời gian giữa hai đỉnh sóng liên tiếp tăng lên). Đối với người ở trên cao mọi chuyện ở phía dưới xảy ra chậm chạp hơn. Điều tiên đoán này đã được kiểm chứng vào năm 1962 bằng cách dùng hai đồng hồ rất chính xác: một đặt ở đỉnh và một đặt ở chân một tháp nước. Đồng hồ ở chân tháp, gần trái đất hơn, chạy chậm hơn - hoàn toàn phù hợp với thuyết tương đối rộng. Sự khác biệt của tốc độ đồng hồ ở những độ cao khác nhau trên mặt đất có một tầm quan trọng đặc biệt trong thực tiễn hiện nay khi người ta sử dụng những hệ thống đạo hàng chính xác dựa trên những tín hiệu từ vệ tinh. Nếu khi này người ta bỏ qua những tiên đoán của thuyết tương đối rộng, thì vị trí tính toán được có thể sai khác tới vài ba dặm!”

Nếu chỉ đơn thuần nhìn vào kết quả thì có thể thấy rằng các thực nghiệm trên đây là minh chứng của sự co giãn của thời gian. Nhưng khi xem xét thật kỹ càng các kết quả đó và so sánh với giả thuyết của thuyết tương đối thì các kết quả của các thực nghiệm đó là không phù hợp, thậm trí là ngược lại.

Trước hết, xuất phát từ giả thuyết của thuyết tương đối để dự đoán kết quả thực nghiệm. Với thực nghiệm tiến hành năm 1937, giả thiết là tốc độ máy bay đạt tốc độ âm thanh (khá cao so với thời kỳ đó) là 0,34km/s, độ cao đường bay là 6km, bán kính quỹ đạo đường bay tại xích đạo sẽ là 6384km, chiều dài đường bay 20.045,76km, thời gian bay trung bình của hai chiếc sẽ là 58958s = 16,37 giờ. Do trái đất quay từ tây sang đông với tốc độ của một điểm trên quỹ đạo máy bay tương ứng với một điểm trên mặt đất tại xích đạo là 6384*2*3.14/24=1668,9km/h = 0,464km/s cho nên tốc độ thực tế của chiếc máy bay bay về hướng tây sẽ là 0,34-0,464 = -0,124km/s, có nghĩa là mặc dù đồng hồ báo tốc độ trên máy bay chỉ 0,34km/s, nhưng máy bay đang bay giật lùi do khí quyển đang quay theo trái đất đẩy ngược lại, còn chiếc bay về hướng đông có tốc độ là 0,804km/s. Như vậy chiếc máy bay bay về hướng đông di chuyển trong không gian với tốc độ lớn hơn chiếc bay về hướng tây. Điều này có thể quan sát được khi lấy sao Bắc đẩu làm hệ quy chiếu.

Theo thuyết tương đối hẹp thì thời gian trên chiếc máy bay bay về hướng đông sẽ chậm hơn chiếc bay về hướng tây do nó di chuyển với tốc độ cao hơn. Nhưng kết quả thực nghiệm cho kết quả là chiếc đồng hồ trên máy bay bay về hướng tây chạy chậm hơn. Đây là kết quả ngược lại với dự đoán của thuyết tương đối hẹp. Mặt khác, nếu tính theo công thức thời gian giãn ra của thuyết tương đối thì chênh lệch về thời gian giữa hai máy bay sẽ chỉ là con số hơn 3 phần triệu của giây, một con số quá nhỏ không thể nhìn thấy trên những chiếc đồng hồ chạy bằng giây cót. Nói cách khác, điều kiện của thực nghiệm không cho phép phát hiện sự giãn ra của thời gian.

Vậy nguyên nhân của sự chênh lệch giữa hai đồng hồ là gì?

Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lệch này. Hãy xét đến điều kiện của thực nghiệm: trước thế chiến II chưa có máy bay hiện đại bay với tốc độ cao, máy bay chưa có đủ tiện nghi để đảm bảo môi trường trong máy bay cách ly được với môi trường bên ngoài. Với những điều kiện như vậy có thể thấy ngay rằng chiếc máy bay bay về hướng tây sẽ có thời gian bay trong ánh nắng mặt trời nhiều hơn chiếc bay về hướng đông, nhiệt độ trong máy bay đó vì vậy cũng cao hơn chiếc bay về hướng đông. Với môi trường nhiệt độ cao, các đồng hồ chạy bằng dây cót sẽ chạy chậm lại do nhiệt độ cao làm giảm tính đàn hồi của các dây cót, trong đó có dây cót của quả lắc. Các loại đồng hồ cơ không có cơ cấu loại trừ ảnh hưởng của nhiệt độ sẽ xuất hiện sai lệch thời gian giữa mùa đông và mùa hè, mùa đông đồng hồ chạy nhanh hơn mùa hè. Như vậy có thể khẳng định rằng chênh lệch về thời gian trong thực nghiệm có nguyên nhân từ sự chênh lệch về nhiệt độ chứ không phải là do thời gian giãn ra.

Điều này còn được khẳng định trong kết quả thực nghiệm năm 1962 nêu trên đây. Chúng ta có thể thấy ngay rằng hai tiên đoán của hai thuyết tương đối rộng và hẹp trong thực nghiệm này là mâu thuẫn với nhau. Nếu theo thuyết tương đối hẹp thì thời gian sẽ chậm lại khi đối tượng di chuyển với tốc độ cao hơn. Chân tháp nước và đỉnh tháp nước có cùng vận tốc góc, nhưng do bán kính (từ tâm trái đất) của đỉnh tháp lớn hơn chân tháp nên quãng đường đỉnh tháp phải di chuyển trong không gian sẽ lớn hơn và do đó tốc độ di chuyển của nó sẽ lớn hơn, đồng hồ đặt trên đỉnh tháp sẽ chạy chậm hơn đồng hồ đặt dưới chân tháp, còn tiên đoán của thuyết tương đối rộng lại cho rằng đồng hồ dưới chân tháp chạy chậm hơn.

Trong thực nghiệm này, những người tiến hành thực nghiệm đã bỏ qua một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến kết quả đó là nhiệt độ môi trường. Do hiệu ứng lồng kính và truyền nhiệt của không khí nên vùng môi trường của chân tháp có nhiệt độ cao hơn đỉnh tháp. Nếu chân tháp được phủ kín bằng bê tông thì nhiệt toả ra càng lớn và chênh lệch nhiệt độ càng thể hiện rõ. Tác dụng của sự chênh lệch nhiệt độ này lên các đồng hồ cũng giống như thực nghiệm năm 1937. Giống lạc đà đi trên sa mạc nhận biết được nhiệt độ không khí sẽ giảm dần theo độ cao từ mặt cát nên chân của chúng phát triển dài ra để phần cơ thể của chúng không phải tiếp xúc nhiều với vùng khí nóng. Kết quả thực nghiệm năm 1962 có vẻ phù hợp về mặt định tính với tiên đoán của thuyết tương đối rộng nhưng trái ngược với tiên đoán của thuyết tương đối hẹp.

Nhiệt còn tác động tới cả độ chính xác của các đồng hồ nguyên tử. Đồng hồ nguyên tử hoạt động dựa trên nguyên lý dao động của các nguyên tử. Mà sự dao động của các nguyên tử chịu tác động của nhiệt, nhiệt độ càng cao thì các nguyên tử dao động càng nhanh. Nếu hai đồng hồ nguyên tử được làm đồng bộ với nhau trong cùng một môi trường nhiệt thì chúng sẽ chỉ thời gian khác nhau khi chúng được đặt vào các môi trường nhiệt khác nhau, cái đặt trong môi trường nhiệt độ cao sẽ chạy nhanh hơn cái đạt trong môi trường nhiệt độ thấp. Đây là nguyên nhân của sự sai lệch đồng hồ nguyên tử trong các vệ tinh định vị so với các đồng hồ nguyên tử cùng loại trên mặt đất.

Môi trường nhiệt của các đồng hồ nguyên tử trong vệ tinh là rất thấp với khoảng âm 230oC, đây là nhiệt độ rất khó tạo ra trên mặt đất. Vì vậy sự chênh lệch nhiệt độ làm việc giữa các đồng hồ trong vệ tinh và trên mặt đất là không tránh khỏi, trong đó đồng hồ nguyên tử trên vệ tinh chạy chậm hơn đồng hồ nguyên tử trên mặt đất. Sự chênh lệch này khá phù hợp với tiên đoán của thuyết tương đối hẹp và là cơ sở cho những người ủng hộ sử dụng để bảo vệ thuyết tương đối. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lệch của đồng hồ đo thời gian.Tiến hành thực nghiệm xác định tác động của nhiệt lên đồng hồ là không phức tạp và kết quả cũng dễ quan sát. Dựa vào các kết quả sai lệch giữa các đồng hồ để cho rằng có sự co giãn của thời gian sẽ là một sự ngộ nhận.

Cùng với giải thuyết mới về môi trường truyền sóng, việc xác định được đúng nguyên nhân gây ra các sai lệch giữa các đồng hồ đã bác bỏ giả thuyết về sự co giãn của thời gian.

Bài viết do bạn đọc Phùng Văn Hòa cung cấp
Email:
phungvanhoa22@yahoo.com.vn

Phùng Văn Hòa
Đánh giá(?):
Các bài phản hồi, bình luận
Trang: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
Tất cả có 50 phản hồi nằm trong 5 trang, mỗi trang 10 bài
Gửi bởi Bạn Phùng Văn Hòa [tanduy] lúc 22:02 13/05/2010
Gửi bạn Thắng!
Tôi biết bạn đang rất bận nhưng bận đã rất cố gắng tham gia vào diễn đàn này. Nhưng bạn đang tự mâu thuẫn khi bạn lấy dao động của hạt nhân nguyên tử làm cơ sở, lúc bạn lại công nhận bức xạ điện từ là cơ sở cho đồng hồ nguyên tử. Bạn có biết tại sao các nhà khoa học đã không sử dụng dao động hạt nhân - như bạn đã chứng minh là không hề phụ thuộc nào nhiệt độ và dao động liên tục- vào đồng hồ nguyên tử mà lại sử dụng bức xạ điện từ do nguyên tử phát ra không có tính liên tục? Tôi không trả lời câu hỏi này mà nhờ bạn trả lời bởi có nhiều người đọc.
Tôi không phải không biết khi xây dựng thuyết tương đối hẹp, Anhstanh sử dụng khái niệm hệ quy chiếu quán tính, nhưng sau đó trong thuyết tương đối rộng thì để cho có tính tổng quát, khái niệm hệ quy chiếu quán tinh đã được thay bằng hệ quy chiếu chuyển động. Nếu bạn đã nghiên cứu TTĐ hẹp và đọc Lược sử thời gian thì và vận dụng vào vệ tinh địa tĩnh và chọn "MỘT" cái gì đó là trái đất thì sẽ thấy ngay mâu thuẫn thôi
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn ha quang thangkh [haqungthangkh] lúc 18:18 18/05/2010
Gửi chú Hoà.
Chú rất hay nhầm lẫn, từ vấn đề đơn giản nhất trở đi. Ví dụ, nguồn của đồng hồ nguyên tử là bức xạ điện từ chứ không phải là dao động hạt nhân- là nguyên văn câu nói của chú chứ không phải của cháu. Sau đó chú chứng minh rằng các bức xạ đó ảnh hưởng đến nhau,.v.v..Xin chú hãy chỉ ra cho cháu biết rằng tại câu nào mà cháu lại có thể đi khẳng định điều đó. Cháu chỉ nói rằng các bức xạ từ nguyên tử không bao giờ ảnh hưởng gì nhau cả, thế thôi. Còn muốn có bức xạ thì phải có kích thích, gồm hai loại:1 - Tự nhiên: thường là do các đồng vị không bền gây ra. 2- Nhân tạo: ta thường cấp nguồn cho nó bằng các sóng hoặc xung hay các va chạm, v.v...Tự thân một nguyên tử bền vững (không có kích thích nào) không bao giờ lại phát ra bức xạ cả. Đó là nguyên lý bảo toàn!!!
Còn đồng hồ không hoạt động theo nguyên tắc đó, mà nó dựa vào nguyên lý cộng hưởng do dao động điều hoà ở hai mức m và n duy nhất của hạt nhân. Hay chính xác hơn nữa phải nói rằng nguyên lý đó là: hiệu chỉnh dung sai bằng phương pháp cộng hưởng dao động.
Thực tế là đã từ lâu người ta đã biết rằng khi ở dưới mức năng lượng nào đó thì hạt nhân của nguyên tử sẽ dao động điều hoà theo dự đoán của Boss-Einstein. Đó chính là nguyên nhân vì sao ta phải “LÀM LẠNH”, thế thôi. Cũng có thể dùng pt sóng kết hợp với pt trạng thái để rút ra một kết luận như vậy. Phản đối một chuyện mà người ta đã chứng minh bằng toán học và sau đó khẳng định bằng thực tế là điều không hay lắm vì như vậy là ta không phải là cố chấp nữa mà là cãi cùn rồi.
Còn về TTĐ thì chú nên tìm hiểu lại. Trước hết, không nói đến Howking vội, nói chung thì Lược sử là quyển truyện cổ tích vật lý rất khái quát cho mọi người thôi, nó không có ý nghĩa khoa học gì lắm, thậm chí cả quyển sách chỉ có một công thức. Cháu đọc nó hơi lâu rồi nhưng nếu nhớ không nhầm thì Howking có giới thiệu đôi dòng về TTĐ tại mục Không gian và thời gian thì phải. Nếu có điều kiện chú cũng nên đọc quyển đó, nhưng phải đọc bản gốc mới thấy hay. Viết đúng phong cánh chuyện cổ tích luôn. Nhân tiện, vì chú là fan của Howking chắc là biết rõ là ngay trước quyển Lược sử, Howking có viết chung với vợ một quyển khác rất đáng đọc về các kiểm chứng TTĐ 1915 khi đo đạc sai lệch thời gian theo độ cao. Trong đó khẳng định là TTĐ1915 là đúng tuyệt đối. Còn để hiểu chút ít về TTĐ thì chú đọc Weller và Brian Greene có ích hơn (trong đó cũng toàn dùng lời không à, dễ đọc lắm).
Khi TTĐ 1906 ra đời, Einstein phát biểu rằng: mọi định luật của khoa học là như nhau đối với tất cả những người quan sát chuyển động tự do (thẳng đều) bất kể vận tốc của họ là bao nhiêu. Từ đó mới nảy sinh ra cái gọi là Hệ qui chiếu quán tính. Theo TTĐ 1906 thì không có cái gì đứng yên tuyệt đối, chính thế HQCQT là HQC chuyển động, chứ không phải năm 1915 Eistein mới đưa ra khái niệm đó. Nhưng nó phải là chuyển động thẳng đều. Chú lại xui cháu đi chọn HQCQT là một vệ tinh địa tĩnh thì chết rồi. Vì vệ tinh đó quay xung quanh trái đất nên theo TTĐ 1906 thì nó không bao giờ được phép mang lon HQCQT đâu, chuyển động thẳng đều và chuyển động quay là hai vấn đề khác nhau đấy nhá!!!
Vì bản thân Einstein cũng biết rằng chuyển động thẳng đều là một thứ vô cùng hiếm gặp trong cuộc sống. Như vậy thì kiếm đâu ra được HQCQT đây?? Nếu không kiếm được nó thì TTĐ 1906 để vào đâu?? Thành ra ông ta mới cho ra TTĐ 1915, mà trong đó không bao giờ có một HQC nào cả. Chúng không có, đơn giản vì không cần khái niệm đó nữa.
Chú hãy đọc vài cuốn Dưa hấu về TTĐ 1915 sẽ thấy ngay điều đó thôi. Sách vở bây giờ nhiều lắm.
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Bạch Xuân Nguyên [windfeast] lúc 18:44 24/05/2010
Nếu thực sự quan tâm về vấn đề này, các bạn có thể đọc thêm cuốn "Giai điệu dây và bản giao hưởng vũ trụ" của Brian Greene. Trong đó có nêu 1 ví dụ rất hay (về việc ký hiệp ước gì đó của 2 ông vua trên 1 chuyến xe lửa đang chạy...) có thể chứng minh rằng 2 người quan sát ở 2 hệ quy chiếu khác nhau sẽ có thời gian không đồng nhất với nhau, với tiên đề rằng ánh sáng có vận tốc không đổi trong mọi hệ quy chiếu. Lâu rồi mình không nghiên cứu vấn đề này, vô tình đọc được bài viết này nên có vài câu vậy thôi...
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Bạch Xuân Nguyên [windfeast] lúc 13:46 25/05/2010
"Dùng tính không đổi của vận tốc ánh sáng, ta dễ dàng chứng minh được rằng quan niệm thông thường của chúng ta về thời gian là hoàn toàn sai lầm.

Ta hãy hình dung lãnh tụ của hai nước đang có chiến tranh, ngồi ở hai đầu đối diện nhau bên bàn đàm phán, vừa mới thoả thuận xong hiệp ước ngừng bắn, nhưng không ai muốn đặt bút ký trước cả. Lúc này Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã nảy ra một giải pháp tuyệt vời. Ông đề nghị đặt một bóng đèn được bật, ánh sáng từ bóng đèn sẽ đồng thời tới chỗ ngồi của hai vị tổng thống, vì họ ngồi cách bóng đèn những khoảng bằng nhau. Và mỗi vị tổng thống sẽ ký vào một bản hiệp ước khi nhìn thấy đèn sáng. Kế hoạch này đã được thực hiện và bản hiệp ước đã được ký kết với sự hài lòng của cả hai bên.

Hể hả với thành công đó, ông Tổng thư ký lại dùng chính biện pháp đó với hai quốc gia khác đang giao chiến khác cũng vừa mới đạt được thoả thuận hoà bình. Chỉ có điều khác là hai vị lãnh đạo tham gia trong cuộc đàm phán này lại ngồi đối diện nhau ở hai đầu bàn đặt trong một toa xe lửa chuyển động với vận tốc không đổi. Thật khéo bố trí là tổng thống nước Tiền Hành lại ngồi ở phía đầu bàn nhìn về phía đầu tàu.

Vốn am hiểu nguyên lý nói rằng các định luật vật lý là hoàn toàn như nhau bất kể trạng thái chuyển động miễn sao chuyển động này là đều, ông Tổng thư ký đã không bận tâm tới vị trí ngồi khác nhau của hai vị lãnh đạo và cho tiến hành lễ ký kết được khởi phát bởi một bóng đèn như đã làm trong trường hợp trước.

Cả hai tổng thống đã ký hiệp ước và cùng với đoàn cố vấn của cả hai bên ăn mừng về sự chấm dứt thù địch giữa hai nước.

Đúng lúc đó có tin trên sân ga đã xảy ra cuộc ẩu đả của dân hai nước đến quan sát lễ ký kết. Tất cả những người tham gia cuộc đàm phán trên tàu đều vô cùng bàng hoàng khi nghe nói rằng nguyên do của sự thù địch mới nổ ra là bởi dân nước Tiền Hành nói rằng họ đã bị lừa bịp vì tổng thống của họ đã đặt bút ký trước đức vua nước Hậu Hành. Vì mọi người trên tàu của cả hai bên đều nhất trí là hiệp ước đã được ký đồng thời, thế thì tại sao những người đứng quan sát bên ngoài trên sân ga lại có thể nghĩ khác?

Chúng ta xem xét kỹ lưỡng hơn quan điểm của người quan sát trên sân ga. Ban đầu, bóng đèn trên tàu chưa bật và sau đó ở một thời điểm đặc biệt nó được bật sáng và phóng chùm sáng về phía cả hai vị tổng thống.

Theo quan điểm của người đứng trên sân ga, thì tổng thống của nước Tiền Hành tiến về phía chùm sáng trong khi đó đức vua nước Hậu Hành lùi ra chùm sáng tới.

Như vậy, theo người quan sát trên sân ga thì điều này có nghĩa là, chùm sáng tới được tổng thống chỉ phải đi quãng đường ngắn hơn, do tổng thống tiến về phía nó, so với quãng đường đến được tới đức vua vì đức vua lùi ra xa nó.

Điều này không đả động gì đến vận tốc ánh sáng vì như chúng ta đã nói bất chấp trạng thái chuyển động của nguồn sáng và người quan sát, vận tốc của ánh sáng đều như nhau. Thay vì thế chúng ta chỉ mô tả khoảng cách mà ánh sáng phải đi cho tới khi đến được tổng thống và đức vua theo quan điểm của người quan sát trên sân ga. Vì khoảng cách này đối với tổng thống là nhỏ hơn so với đức vua và vì vận tốc ánh sáng hướng tới mỗi người là như nhau, nên ánh sáng sẽ tới tổng thống của nước Tiền Hành sớm hơn. Và điều này giải thích tại sao dân nước này tuyên bố rằng họ đã bị lừa.

Khi đài CNN phát đi lý lẽ của những người chứng kiến, ông Tổng thư ký, tổng thống và đức vua hai nước cùng với các cố vấn của họ không thể tin vào tai mình nữa. Tất cả họ đều nhất trí rằng bóng đèn đã được lắp chặt ở chính giữa tổng thống và đức vua do đó dứt khoát là ánh sáng từ bóng đèn phát ra sẽ phải đi cùng một quãng đường đến đức vua và tổng thống. Vì vận tốc của ánh sáng đi sang phải sang trái đều như nhau, nên họ tin rằng ánh sáng đó sẽ đến hai vị lãnh đạo một cách đồng thời. Những quan sát của mỗi nhóm và lời giải thích biện hộ của họ đều không chê vào đâu được.

Và câu trả lời là cả hai đều có lý cả. Giống như hai nhà du hành Goerge và Gracie, quan điểm của mỗi người đều có một phần chân lý như nhau. Sự lắt léo duy nhất ở đây là: “chân lý” tương ứng của hai bên dường như lại mâu thuẫn nhau. Về mặt chính trị, kết cục của cuộc tranh cãi này là rất quan trọng: Liệu tổng thống và đức vua có ký hiệp ước một cách đồng thời hay không?

Những quan sát và suy luận nêu ở trên không khỏi dẫn chúng ta tới kết luận rằng theo những người ở trên tàu thì họ đã ký đồng thời còn theo những người ở sân ga thì không phải như vậy.

Nói một cách khác, những sự kiện có thể đồng thời đối với người quan sát này sẽ không đồng thời đối với người quan sát khác, nếu như hai người là chuyển động đối với nhau."
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Bạch Xuân Nguyên [windfeast] lúc 14:31 25/05/2010
Mình không nghĩ rằng biết bao nhà khoa học tài năng của chúng ta lại đều đủ ngớ ngẩn mà bỏ qua sự ảnh hưởng của nhiệt độ hay cái gì đó khác vào các thí nghiệm kiểm chứng cho một lý thuyết đóng vai trò trụ cột trong vật lý học hiện đại như zậy. Họ có thể sai, nhưng sai vì điều này thì không !
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn T N T [TNT_giang] lúc 15:28 19/06/2010
^^! chi co van dong la tuyet doi con moi thu khac chi la tuong doi .vi vay ma moi nguoi dung co tranh luan nham nhi nua
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn nguyen manh tien [manhtien_dt] lúc 09:58 10/07/2010
gui ban:T N T hay thuoc no gi do
khong bit thi thoi nguoi a chanh luan de hieu bit them chu khong phai nham nhi nha,noi nang cho can than
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Hoàng Quốc Hưng [TheZeus9x] lúc 03:27 22/07/2010
Trước khi các bạn tranh luận xin hãy tự mình xem lại Thuyết Tương Đối là gì đã. Các bạn có thật sự hiểu không??? Thân
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn phạm trần hương giang [phamtranhuonggiang] lúc 12:07 22/07/2010
mọi người chỉ toàn nghiên cứu thời gian qua đồng hồ mà thui, biết đâu được là tại cái đồng hồ nó bị tác động hay là tại thời gian bị tác động?
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn tran hoai tam [tranhoaitam] lúc 13:42 15/08/2010
Những gì chúng ta thấy chỉ là bề nổi và chúng ta giải thích bề nổi thôi. Thật ga có vật chất tối không,nếu khẳng dịnh là có thì chúng ta sẽ giải thích thật nhiều điều.
 Phàn nàn
Trang: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
Tất cả có 50 phản hồi nằm trong 5 trang, mỗi trang 10 bài
Những chuyện kỳ bí