Chênh lệch nhiệt độ - thủ phạm gây ra sự chênh lệch về thời gian trong các thực nghiệm kiểm chứng thời gian giãn ra

Cập nhật lúc 08h06' ngày 26/12/2009

Thuyết tương đối hẹp cho rằng trong các hệ quy chiếu chuyển động, thời gian sẽ giãn ra. Nếu hai chiếc đồng hồ chạy đồng bộ với nhau thì khi đặt chúng vào trong hai hệ quy chiếu chuyển động với tốc độ khác nhau, chiếc đặt trong hệ quy chiếu chuyển động nhanh sẽ chạy chậm lại do thời gian giãn ra.

Để kiểm chứng giả thuyết về sự giãn ra của thời gian, nhiều thực nghiệm đã được tiến hành và sự chênh lệch thời gian giữa các đồng hồ đã xuất hiện. Thực nghiệm đầu tiên được tiến hành năm 1937 bằng việc đặt hai chiếc đồng hồ chính xác trên hai chiếc phi cơ bay theo hai hướng đông và tây. Kết quả thực nghiệm cho thấy chiếc đồng hồ trên chiếc máy bay bay về hướng tây chậm hơn chiếc trên máy bay bay về hướng đông.

Thực nghiệm thứ hai được tiến hành năm 1962, xin trích dẫn về thực nghiệm này được viết trong Lược sử thời gian của Stephen Hawking: “Một tiên đoán khác của thuyết tương đối rộng là thời gian dường như chạy chậm hơn khi ở gần những vật có khối lượng lớn như trái đất. Đó là bởi vì một mối liên hệ giữa năng lượng của ánh sáng và tần số của nó (tần số là sóng ánh sáng trong một giây): năng lượng càng lớn thì tần số càng cao. Khi ánh sáng truyền hướng lên trong trường hấp dẫn của trái đất, nó sẽ mất năng lượng và vì thế tần số của nó giảm. (Điều này có nghĩa là khoảng thời gian giữa hai đỉnh sóng liên tiếp tăng lên). Đối với người ở trên cao mọi chuyện ở phía dưới xảy ra chậm chạp hơn. Điều tiên đoán này đã được kiểm chứng vào năm 1962 bằng cách dùng hai đồng hồ rất chính xác: một đặt ở đỉnh và một đặt ở chân một tháp nước. Đồng hồ ở chân tháp, gần trái đất hơn, chạy chậm hơn - hoàn toàn phù hợp với thuyết tương đối rộng. Sự khác biệt của tốc độ đồng hồ ở những độ cao khác nhau trên mặt đất có một tầm quan trọng đặc biệt trong thực tiễn hiện nay khi người ta sử dụng những hệ thống đạo hàng chính xác dựa trên những tín hiệu từ vệ tinh. Nếu khi này người ta bỏ qua những tiên đoán của thuyết tương đối rộng, thì vị trí tính toán được có thể sai khác tới vài ba dặm!”

Nếu chỉ đơn thuần nhìn vào kết quả thì có thể thấy rằng các thực nghiệm trên đây là minh chứng của sự co giãn của thời gian. Nhưng khi xem xét thật kỹ càng các kết quả đó và so sánh với giả thuyết của thuyết tương đối thì các kết quả của các thực nghiệm đó là không phù hợp, thậm trí là ngược lại.

Trước hết, xuất phát từ giả thuyết của thuyết tương đối để dự đoán kết quả thực nghiệm. Với thực nghiệm tiến hành năm 1937, giả thiết là tốc độ máy bay đạt tốc độ âm thanh (khá cao so với thời kỳ đó) là 0,34km/s, độ cao đường bay là 6km, bán kính quỹ đạo đường bay tại xích đạo sẽ là 6384km, chiều dài đường bay 20.045,76km, thời gian bay trung bình của hai chiếc sẽ là 58958s = 16,37 giờ. Do trái đất quay từ tây sang đông với tốc độ của một điểm trên quỹ đạo máy bay tương ứng với một điểm trên mặt đất tại xích đạo là 6384*2*3.14/24=1668,9km/h = 0,464km/s cho nên tốc độ thực tế của chiếc máy bay bay về hướng tây sẽ là 0,34-0,464 = -0,124km/s, có nghĩa là mặc dù đồng hồ báo tốc độ trên máy bay chỉ 0,34km/s, nhưng máy bay đang bay giật lùi do khí quyển đang quay theo trái đất đẩy ngược lại, còn chiếc bay về hướng đông có tốc độ là 0,804km/s. Như vậy chiếc máy bay bay về hướng đông di chuyển trong không gian với tốc độ lớn hơn chiếc bay về hướng tây. Điều này có thể quan sát được khi lấy sao Bắc đẩu làm hệ quy chiếu.

Theo thuyết tương đối hẹp thì thời gian trên chiếc máy bay bay về hướng đông sẽ chậm hơn chiếc bay về hướng tây do nó di chuyển với tốc độ cao hơn. Nhưng kết quả thực nghiệm cho kết quả là chiếc đồng hồ trên máy bay bay về hướng tây chạy chậm hơn. Đây là kết quả ngược lại với dự đoán của thuyết tương đối hẹp. Mặt khác, nếu tính theo công thức thời gian giãn ra của thuyết tương đối thì chênh lệch về thời gian giữa hai máy bay sẽ chỉ là con số hơn 3 phần triệu của giây, một con số quá nhỏ không thể nhìn thấy trên những chiếc đồng hồ chạy bằng giây cót. Nói cách khác, điều kiện của thực nghiệm không cho phép phát hiện sự giãn ra của thời gian.

Vậy nguyên nhân của sự chênh lệch giữa hai đồng hồ là gì?

Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lệch này. Hãy xét đến điều kiện của thực nghiệm: trước thế chiến II chưa có máy bay hiện đại bay với tốc độ cao, máy bay chưa có đủ tiện nghi để đảm bảo môi trường trong máy bay cách ly được với môi trường bên ngoài. Với những điều kiện như vậy có thể thấy ngay rằng chiếc máy bay bay về hướng tây sẽ có thời gian bay trong ánh nắng mặt trời nhiều hơn chiếc bay về hướng đông, nhiệt độ trong máy bay đó vì vậy cũng cao hơn chiếc bay về hướng đông. Với môi trường nhiệt độ cao, các đồng hồ chạy bằng dây cót sẽ chạy chậm lại do nhiệt độ cao làm giảm tính đàn hồi của các dây cót, trong đó có dây cót của quả lắc. Các loại đồng hồ cơ không có cơ cấu loại trừ ảnh hưởng của nhiệt độ sẽ xuất hiện sai lệch thời gian giữa mùa đông và mùa hè, mùa đông đồng hồ chạy nhanh hơn mùa hè. Như vậy có thể khẳng định rằng chênh lệch về thời gian trong thực nghiệm có nguyên nhân từ sự chênh lệch về nhiệt độ chứ không phải là do thời gian giãn ra.

Điều này còn được khẳng định trong kết quả thực nghiệm năm 1962 nêu trên đây. Chúng ta có thể thấy ngay rằng hai tiên đoán của hai thuyết tương đối rộng và hẹp trong thực nghiệm này là mâu thuẫn với nhau. Nếu theo thuyết tương đối hẹp thì thời gian sẽ chậm lại khi đối tượng di chuyển với tốc độ cao hơn. Chân tháp nước và đỉnh tháp nước có cùng vận tốc góc, nhưng do bán kính (từ tâm trái đất) của đỉnh tháp lớn hơn chân tháp nên quãng đường đỉnh tháp phải di chuyển trong không gian sẽ lớn hơn và do đó tốc độ di chuyển của nó sẽ lớn hơn, đồng hồ đặt trên đỉnh tháp sẽ chạy chậm hơn đồng hồ đặt dưới chân tháp, còn tiên đoán của thuyết tương đối rộng lại cho rằng đồng hồ dưới chân tháp chạy chậm hơn.

Trong thực nghiệm này, những người tiến hành thực nghiệm đã bỏ qua một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến kết quả đó là nhiệt độ môi trường. Do hiệu ứng lồng kính và truyền nhiệt của không khí nên vùng môi trường của chân tháp có nhiệt độ cao hơn đỉnh tháp. Nếu chân tháp được phủ kín bằng bê tông thì nhiệt toả ra càng lớn và chênh lệch nhiệt độ càng thể hiện rõ. Tác dụng của sự chênh lệch nhiệt độ này lên các đồng hồ cũng giống như thực nghiệm năm 1937. Giống lạc đà đi trên sa mạc nhận biết được nhiệt độ không khí sẽ giảm dần theo độ cao từ mặt cát nên chân của chúng phát triển dài ra để phần cơ thể của chúng không phải tiếp xúc nhiều với vùng khí nóng. Kết quả thực nghiệm năm 1962 có vẻ phù hợp về mặt định tính với tiên đoán của thuyết tương đối rộng nhưng trái ngược với tiên đoán của thuyết tương đối hẹp.

Nhiệt còn tác động tới cả độ chính xác của các đồng hồ nguyên tử. Đồng hồ nguyên tử hoạt động dựa trên nguyên lý dao động của các nguyên tử. Mà sự dao động của các nguyên tử chịu tác động của nhiệt, nhiệt độ càng cao thì các nguyên tử dao động càng nhanh. Nếu hai đồng hồ nguyên tử được làm đồng bộ với nhau trong cùng một môi trường nhiệt thì chúng sẽ chỉ thời gian khác nhau khi chúng được đặt vào các môi trường nhiệt khác nhau, cái đặt trong môi trường nhiệt độ cao sẽ chạy nhanh hơn cái đạt trong môi trường nhiệt độ thấp. Đây là nguyên nhân của sự sai lệch đồng hồ nguyên tử trong các vệ tinh định vị so với các đồng hồ nguyên tử cùng loại trên mặt đất.

Môi trường nhiệt của các đồng hồ nguyên tử trong vệ tinh là rất thấp với khoảng âm 230oC, đây là nhiệt độ rất khó tạo ra trên mặt đất. Vì vậy sự chênh lệch nhiệt độ làm việc giữa các đồng hồ trong vệ tinh và trên mặt đất là không tránh khỏi, trong đó đồng hồ nguyên tử trên vệ tinh chạy chậm hơn đồng hồ nguyên tử trên mặt đất. Sự chênh lệch này khá phù hợp với tiên đoán của thuyết tương đối hẹp và là cơ sở cho những người ủng hộ sử dụng để bảo vệ thuyết tương đối. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lệch của đồng hồ đo thời gian.Tiến hành thực nghiệm xác định tác động của nhiệt lên đồng hồ là không phức tạp và kết quả cũng dễ quan sát. Dựa vào các kết quả sai lệch giữa các đồng hồ để cho rằng có sự co giãn của thời gian sẽ là một sự ngộ nhận.

Cùng với giải thuyết mới về môi trường truyền sóng, việc xác định được đúng nguyên nhân gây ra các sai lệch giữa các đồng hồ đã bác bỏ giả thuyết về sự co giãn của thời gian.

Bài viết do bạn đọc Phùng Văn Hòa cung cấp
Email:
phungvanhoa22@yahoo.com.vn

Phùng Văn Hòa
Đánh giá(?):
Các bài phản hồi, bình luận
Trang: 1 | 2 | 3 | 4
Tất cả có 34 phản hồi nằm trong 4 trang, mỗi trang 10 bài
Gửi bởi Bạn Phùng Văn Hòa [tanduy] lúc 20:56 21/01/2010
Chào bạn Phạm Hồng Minh!
Nếu như các phản hồi trước trong bài này tôi chưa viết cụ thể riêng cho một người thì ở bài này tôi viết riêng cho bạn bởi chúng ta đã từng tranh luận quyết liệt với nhau. Vậy mà bạn lại nói rằng khả năng của mình chẳng đi tới đâu để tranh luận với tác giả cả. nếu tôi nhớ không nhầm thì bạn còn cho tôi ( mà tôi cũng công nhận) là không hiểu gì về thuyết tương đối ( nếu không phải là bạn thì cho tôi xin lỗi nhé bởi có rất nhiều người cho tôi là thiếu kiến thức vật lý, tôi cũng chẳng cãi điều này). Khi một người không biết ( là tôi) đưa ra các câu hỏi để những người biết giải đáp thì nhiều khi không nhận được những câu trả lời thoả đáng. Tôi là người hay đặt ra các câu hỏi và nếu ai không đủ kiên nhẫn sẽ khó hoặc không thể trả lời. Nhiều khi những câu hỏi có vẻ không liên quan gì tới nội dung của bài ví dụ như trong bài này tôi có hỏi bạn Thắng tại sao các chất có thể tồn tại ở ba dạng rắn, lỏng, khí trong khi nội dung của bài đề cập tới ảnh hưởng của nhiệt độ tới hoạt động của đồng hồ nguyên tử. Cả hai điều này có liên quan đến nhau và tôi muốn các bạn trả lời những câu hỏi này để thấy được các mối liên hệ giữa chúng và tìm ra được những điều còn mâu thuẫn.
Bạn cho rằng tôi không nhận được nhiều sự ủng hộ của cộng đồng bạn đọc ư? Tôi đã biết điều này bởi tôi đã đưa ra những điều nghịch nhĩ, những điều mà sách vở đang nói khác đi. Điều mà tôi xác định trước khi đưa bài viết lên là đưa ra một hướng suy nghĩ khác, một việc làm mà rất ít người dám làm ( không biết bạn có dám làm điều này không và đã làm bao giờ chưa). Xin nói với bạn thế này: nếu muốn nhận được nhiều lời tán dương thì chỉ cần khéo nói ra những điều đang ở trong đầu nhiều người khác. Mà bạn biết đấy, những điều đang ở trong đầu nhiều người khác thường là những điều đã được phổ biến rộng rãi rồi. Tôi là người dám mạo hiểm nhưng không coi trời bằng vung và không hề coi thường các bạn. Vấn đề là ở chỗ tôi không được như các bạn hàng này được tiếp xúc với sách vở, không thường xuyên lên mạng để kịp thời trao đổi với các bạn thôi. Tôi không đặt vấn đề mình phải thành công với nội dung bài viết của mình, nhưng có một điều tôi đã làm được, đó là thông qua các phản hồi để nhiều bạn đọc thể hiện năng lực tư duy của mình, đồng thời có nhiều bạn khác phải chỉnh lại kiến thức. Đây là điều mà khó có bài viết nào thực hiện được. Nếu như vấn đề tôi đưa ra là sai nhưng đem đến sự nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn cho rất nhiều bạn đọc thì cũng là một thành công của bài viết rồi. Vậy việc không nhận được nhiều sự ủng hộ như bạn nói đâu có gì là đáng e ngại hay xấu hổ. Theo tôi điều đáng e ngại nhất là mình biết cái sai hoặc nghi ngờ nhưng vì có nhiều người công nhận là đúng mà mình không dám nói ra, chấp thuận hoàn toàn những lý thuyết còn thể hiện sự mâu thuẫn giữa các lý thuyết với nhau, mâu thuẫn giữa lý thuyết với thực tế và điều đáng xấu hổ nhất là sợ việc nói ra đó sẽ ảnh hưởngr xấu đến quyền lợi hoặc con đường công danh của mình.
Vì bạn không tham gia vào nội dung bài viết nên tôi cũng không trao đổi với bạn về những điều trong đó. Chúc bạn năm mới mạnh khoẻ và thành đạt. Thân chào bạn!
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Phùng Văn Hòa [tanduy] lúc 20:58 21/01/2010
Gửi bạn Thắng!
Bạn đã có hai quan niệm sai lầm về khoa học, thứ nhất :đó là coi các lý thuyết khoa học giống như tấm áo và việc xây dựng lý thuyết đó giống như may một chiếc áo, thứ hai, đó là nghiên cứu khoa học theo mod. Việc coi các lý thuyết khoa học giống như tấm áo khi cũ sẽ bị thay ra bởi các lý thuyết mới là một sự coi thường, thậm trí là phỉ báng các nhà khoa học mặc dù lý thuyết của họ có thể bị thay thế. Không phải ai cũng có thể xây dựng nên một lý thuyết khoa học mà chỉ có những người tâm huyết với khoa học mới làm điều này, ngay cả những người rất yêu khoa học nhưng cũng không dễ dàng gì xây dựng được một lý thuyết cho khoa học. Những nhà khoa học đã phải dành ra rất nhiều công sức, thậm trí phải hy sinh nhiều thứ dành cho bản thân và có thể là đánh đổi cả cuộc đời để xây dựng được một lý thuyết khoa học cho nhân loại. Do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện nghiên cứu nên trong thực tế sẽ có nhiều lý thuyết chỉ đúng trong một phạm vi nào đó và trong một khoảng thời gian nào đó. Nó sẽ được thay thế bởi những lý thuyết mới đúng hơn. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó không có giá trị. Nhận thức của con người về thế giới tự nhiên là sự nhận thức đúng dần. Có lý thuyết sai sẽ dẫn đến việc phải xây dựng một lý thuyết khác đúng hơn và lý thuyết sai là động lực cho việc xây dựng lý thuyết mới và khi lý thuyết mới ra đời. lý thuyết cũ sẽ được đưa vào bảo tàng khoa học để ghi nhận công lao của người đã xây dựng nên nó chứ không phải là việc vứt bỏ nó như vứt một chiếc áo cũ. Đây là đạo đức khoa học. Những người sống nhờ vào khoa học nhưng lại coi việc thay các lý thuyết khoa học như thay một chiếc áo là những người thiếu đạo đức. Bạn đừng nhầm lẫn giữa việc tìm cách thay thế một lý thuyết khoa học này bằng một lý thuyết khoa học khác là việc tìm cách vứt bỏ lý thuyết đó. Khi một lý thuyết bộc lộ những hạn chế, những mâu thuẫn thì cần phải tìm cách điều chỉnh, hoàn thiện hoặc thay thế nếu như nó không còn khả năng đáp ứng. Chỉ có các lý thuyết khoa học hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn chỉnh cứ không có lý thuyết khoa học được may vụng hay khéo. Khoa học là việc bộc lộ các bí ẩn của thế giới, do đó nó không bao hàm tính hình thức, không thể lấy sự khéo léo để tạo ra các học thuyết đẹp nhưng ít có giá trị khoa học. bạn có nói là có hỏi tôi về lý thuyết dây và đây là lý thuyết mốt hiện nay. Tôi xin nói là tôi không chạy theo mốt, và trong khoa học, việc nghiên cứu chạy theo mốt (như bạn nói) đó là công việc của những người chỉ biết chạy theo người khác mà không biết tìm cho mình một con đường riêng, chỉ biết nói những cái mà người khác nói, làm lại những điều người khác đã làm và dựa vào đó để kiếm tiền của nhà nước hay của các nhà tài trợ. Thật tiếc là tôi đã phải đưa ra những lời lẽ này và hy vọng điều này có thể giúp bạn có những cái nhìn đúng đắn hơn về khoa học thay cho cái nhìn lệch lạc mà bạn nhận dược từ một thầy giáo ( như bạn nói). Kiến thức khoa học mà bạn được tíêp thu chỉ là phần ngọn. Nếu xét về mặt lượng một học sinh lớp 12 hiện nay có thể có lượng kiến thức lớn hơn nhiều nhà bác học cuối thế kỷ 19. Nhưng điều đó đâu có nghĩa là tất cả học sinh Việt nam hiện nay đều là các nhà bác học. Một thực tế đáng buồn nữa là lượng học sinh Việt nam dành được các giải trong các kỳ thi học sinh giỏi là khá nhiều, nhưng số nmgười trở thành các nhà khoa học có tiếng tăm lại chẳng đáng là bao. Nền giáo dục Việt nam là nền giáo dục đào tạo người đi thi và dặc biệt hơn do chú trọng vào đào tạo nên phần giáo dục bị coi nhẹ.
Mà thôi, tôi không đi lan man nữa mà quay lại chủ đề của bài viết. Tôi không có ý kiến gì về nhiệt không ảnh hưởng tới chu kỳ bức xạ điện từ như bạn nói. Nhưng lưu ý với bạn một điều: bức xạ điện từ chỉ được phát ra khi các e chuyển từ mức năng lượng cao về mức năng lượng thấp ( một xung), còn trong quá trình chuyển từ mức thấp lên mức cao thì không có bức xạ, có nghĩa là bức xạ điện từ không được phát ra liên tục mà bị gián đoạn. Nếu đồng hồ nguyên tử chỉ cần chạy trong thời kỳ phát ra bức xạ điện từ thì độ chính xác của nó không có gì phải bàn và nhiệt không ảnh hưởng tới chu kỳ của bức xạ điện từ. Nhưng đồng hồ nguyên tử đo thời gian phải chạy liên tục chứ không thể gián đọan. Bạn có hiểu điều này không nhỉ? Các e khi chuyển mức năng lượng sẽ chỉ phát ra được một xung bức xạ điện từ. Để đồng hồ chạy liên tục thì các xung phải được phát kế tiếp và liên tục nhau, các pha cũng phải đồng bộ với nhau để tránh sự sai lệch cho máy đếm. Sự kế tiếp của các xung có thể được thực hiện khi duy trì kích thích, nhưng sự liên tục thì không thể. Do đó phải dùng đến biện pháp điều chỉnh để khoảng thời gian giữa các xung bằng hoặc là bội số thời gian phát xung. Với việc phải áp dụng biện pháp này, độ chính xác của đồng hồ nguyên tử lại phụ thuộc vào điều kiện kích thích các e. Sự kích thích các e không chuẩn sẽ làm sai lệch việc phát các xung bức xạ điện từ. Đồng hộ nguyên tử chỉ chạy chính xác trong thời gian phát ra bức xạ điện từ. Bạn đã hiểu chưa đầy đủ về việc này nên đã dẫn đến đến việc cho rằng nhiệt độ không tác động đến độ chính xác của đồng hộ nguyên tử. Xin nói để bạn rõ thêm: nếu chỉ cần có một giây thì chỉ cần một xung bức xạ điện từ có đủ 9.192.631.770 chu kỳ ( nếu sự chuyển mức của các e tạo ra được xung này), nhưng khi cần có nhiều giây liên tục thì bạn cần chắp nối các xung lại và sai lệch của đồng hồ nguyên tử xảy ở chỗ chắp nối các xung. Một yếu tố có ảnh hưởng đến sự chắp nối các xung chính là nhiệt độ. Ngoài ra còn có thế còn có các yếu tố khác. Đây là lý do để tại sao trên thế giới chỉ có một chiếc đồng hồ nguyên tử để làm chuẩn chứ không phải là có rất nhiều chiếc như thế bởi chế tạo được hai chiếc động hồ với mức độ chính xác cao chạy đồng bộ với nhau là không đơn giản. Khi thế giới có vài chiếc đồng hồ làm chuẩn nhưng lại sai lệch nhau thì sẽ dẫn đến sự rối loạn. Bạn thấy đấy, ngay trên mặt đất này, nơi loại trừ được ảnh hưởng của thời gian thì các đồng hồ đã khó có sự đồng bộ chứ với các điều kiện môi trường khác biệt giữa mặt đất và vệ tinh chẳng lẽ lại không có sự sai khác nào giữa các đồng hồ?
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Vũ Hoàng Long [Misuto] lúc 23:49 21/01/2010
Thật ra để chứng minh một vấn đề nghiên cứu không phải lúc nào cũng thành công . Điều này còn phụ thuộc Điều kiện để xảy ra vấn đề đó
Ví dụ ai cũng biết nước sôi ở 100 độ C nhưng là điều kiện dưới mặt đất
Còn khi lên đỉnh núi cao thì nhiệt độ sôi của nước có khi chỉ còn dưới 90 độ C do áp suất không khí giảm

Như vậy mỗi hiện tượng chỉ xảy ra trong những điều kiện nào đó .
Khi nghiên cứu khó mà biết hết được những yếu tố khác tác động vào làm thay đổi kết quả , nhất là khoa học vũ trụ ...

Các bài giảng về khoa học tự nhiên trong trường phổ thông có nhiều cái là giả thuyết : nghĩa là chưa chứng minh được chắc chắn mà chỉ có dẫn chứng ( tạm gọi là ) thuyết phục
Ví dụ giả thuyết con người được tiến hóa từ khỉ , nhưng tại sao hiện nay khỉ không tiếp tục tiến hóa thành người , chưa ai giải thích được

Không thể phủ định hay khẳng định vấn đề gì khi nó chưa được chứng minh rõ ràng , mà chỉ " nửa tin nửa ngờ " hay "cứ biết thế đã "
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn ha quang thang [haquangthang] lúc 15:17 23/01/2010
Gửi chú Ngọc
Chào đại ca.
Vì không thấy huynh trả lời, (xin đừng nói là bỏ cuộc đấy nhen) cho đệ hỏi một câu: pt (3) có phải là lừa không???
Hôm qua, có trao đổi với Van Bauun về lý thuyết dây rồi, nhưng tất nhiên là đệ không đồng quan điểm với ông ấy. Dù sao, cũng cần phải có lối thoát, ngoài siêu dây ra, đệ chẳng thấy có gì hay ho cả. Mong phiền huynh thu xếp chút thời gian trả lời giùm.
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn ha quang thang [haquangthang] lúc 17:29 23/01/2010
Gửi chú Hoà
Vấn đề này có thể xét một cách mộc mạc, thậm chí chỉ cần sử dụng phương trình sóng cổ điển là đủ, đại loại như sau:
Phương trình Schrodinger một chiều, không phụ thuộc thời gian, được thể hiện bởi phương trình vi phân:
d^2φ/dx^2=-2m(E-U(x))/ħ^2
1. φ(x)→0 khi x→±∞;
2 φ(x)=0 nếu x ở vị trí bất khả;
3. j (x) là một hàm liên tục;
4. j (x) là một hàm chuẩn hoá (xác suất tìm thấy hạt trong không gian toàn phần bằng 1);
5. L là kích thước chiếm chỗ khả dĩ;
hàm thế năng là:
1.U(x)=0 với 0<x<=L
2.U(x)=∞ với x=0 hoặc x>L
Hàm sóng của hạt nhân sẽ là:
d^2φ/dx^2=-2mEφ(x)/ħ^2
Coi:
B^2=2mE/ħ^2
Khi đó phương trình sóng là :
d^2φ/dx^2=-B^2φ(x)
Cái này y phương trình Rao động điều hoà, vì vậy nghiệm φ(x) sẽ có dạng một hàm sin, do vậy:
φ(x)=sinBx
Theo điều kiện biên, ta có:
φ(x=L)=sinBL=0
Do đó,
BL=nπ→B=nπ/L
Trong đó n là số nguyên dương.
Quĩ đạo Rao động của hạt nhân phải thoả mãn phương trình góc, vì hạt nhân có cấu trúc đối xứng tâm, do đó phương trình góc chỉ có thể có một nghiệm duy nhất, tương ứng với n=1.
φ(x)=Asin(πx/L)
Trong đó A là biên độ Rao động của hàm.
Tất nhiên, vì ta không quan tâm lắm đến A, còn nếu cần thiết, để xác định biên độ, ta dùng điều kiện biên cơ sở, j(x)là hàm chuẩn hoá, biểu diễn toán học dưới dạng:
0∫L│φ(x)│^2=1
Tức là, xác suất tìm thấy hạt nhân trong vùng không gian của nguyên tử bằng 1.
Kết luận: Không phụ thuộc vào số lượng và trạng thái các điện tử của mình, hạt nhân nguyên tử của một nguyên tố hoá học luôn luôn Rao động với một tần số không đổi, căn cứ theo khối lượng hạt nhân (hay vị trí của nguyên tố đó trong bảnh tuần hoàn). Các tác động ngoại lai làm thay đổi trạng thái năng lượng của hạt nhân chỉ ảnh hưởng tới biên độ Rao động của nó.
Chú nói đúng, không được phép nhầm người nghiên cứu khoa học với một số kẻ làm ra vẻ nghiên cứu khoa học. Tại đây, có ai đó, hình như chẳng biết gì nhưng phán xét người khác thì cũng ta đây ghê… lắm.
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Nguyen Hoang Duy [darklord] lúc 21:52 07/02/2010
Một cuộc tranh luận thú vị và nảy lửa, tôi tự nhận không đủ kiến thức để tham gia, chỉ xin được góp ý một chút thôi
Bạn Thắng: Kiến thức thật sự rất sâu rộng, gây ấn tượng mạnh đối với tôi. Nhưng tôi thấy bạn thiếu tôn trọng với người khác ( chưa nói đến vấn đề tuổi tác). Bạn thừa nhận mình tự cao khó sửa, nhưng tôi còn thấy trong lời phản hồi của bạn có sự khinh miệt.
Bác Hòa: Bác thừa nhận kiến thức eo hẹp của mình về vật lý và không giấu dốt, không ngại đặt câu hỏi. Cháu ( xin phép được xưng hô như vậy) coi trọng đức tính này.
NẾu có 1 hình ảnh so sánh khập khiễng thì cảm nhận của tôi về bác Hòa và bạn Thắng giống như 2 người leo núi. Một người ở trên cao ngạo nghễ, khinh khỉnh nhìn người đi sau leo từng bước khó nhọc. Nhưng chắc gì bạn đã leo nhanh hơn người ta mà không trượt chân té chứ ?
Tôi không đồng tình với bạn Hoàng Xuân Phương ( học viện Massachusett), tôi đồng tình với bạn : Trong khoa học mọi người đều bình đẳng, không phải anh lớn tuổi mà nói gì cũng được. Vấn đề ở đây là thái độ ăn nói bạt mạng không tôn trọng người khác.
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Huỳnh Minh Đụi [zorroa3] lúc 22:33 27/02/2010
cách đây hơn một năm mình cũng cãi lại bác Hoà, nhưng không được, xem ra lí thuyết của bác có khả năng đứng vững trong thời gian dài đó, giờ chẳng muốn tìm hiểu về vật lí nữa, chờ hồi nào bác Hoà hoàn thiện lí thuyết của bác thì học lại từ đầu thôi.
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Dương Quốc Hòa [QuocHoaIT] lúc 11:18 01/03/2010
Gởi bạn Phùng Văn Hòa.
Tôi cũng đã xem nhiều bài viết của bạn và tôi thấy có một điểm chung là bạn luôn muốn bác bỏ thuyết tương đối của anhxtanh và cho rằng không thời gian là không thể cong được. Tôi cũng là một người rất đam mê vật lý lý thuyết, nhưng tôi không muốn đăng ký trên diễn đàn này vì kiến thức còn quá hạn hẹp. Thế nhưng tôi đã đăng ký để đóng góp một số ý kiến với bạn như sau:
- Thứ nhất: Các thí nghiệm có thể thực hiện được để kiểm chứng đúng hay sai đối với thuyết tương đối các nhà khoa học đã làm rồi và tất nhiên họ cũng đã tính toán rất tỉ mỉ mọi trường hợp dựa trên sự hiểu biết chuyên sâu của họ và cả công nghệ hiện đại mà họ đang nắm giữ. Thế nhưng chưa có nhà khoa học (hoặc trung tâm khoa học) nào dám mạnh miệng khẳng định thuyết tương đối sai cả. Còn bạn, chỉ có sự lập luận cùng những thí nghiệm "nghèo nàn" (những thí nghiệm của hàng trăm năm trước với công nghệ và kỹ thuật cũng..."nghèo nàn" so với bây giờ đã vội vàng khẳng định khăng khăng thì...
- Thứ hai: Cũng liên quan tới công nghệ và những nền tản vật lý. Với sự hiểu biết về vật lý hiện tại cùng với sự hổ trợ mạnh mẽ của công nghệ hiện tại thì người ta có thừa khả năng để tạo ra những chiếc đồng hộ điện tử khá chính xác và tôi nhớ không lầm thì NaSa đã đưa một cái vào vũ trụ để kiểm chứng thuyết tương đối rồi(kết quả như thế nào thì...). Và một lưu ý nữa là để kiểm chứng thuyết tương đối không chỉ có một cách là dùng cái đồng hồ và vài thiết bị có vận tốc "nghèo nàn" để chứng minh(nếu vậy thì dễ quá,người ta đã chứng minh được từ...vài chục năm về trước chứ không để đến bây giờ để bạn chứng minh )mà có vô vàng thí nghiệm đưa ra nghiên cứu, trong đó chính sự chuyển động của vũ trụ và một số hiện tượng của nó là những công cụ hổ trợ "khá tốt"(tất nhiên các nhà khoa học thừa sức hiểu điều đó và đã tận dụng tối đa). Và còn nhiều nhiều nữa...
Tôi chỉ xin đóng góp một số ý kiến để bạn không quá "ngây thơ" khi "khám phá" khoa học tự nhiên mà đặt biệt là vật lý mà thôi. Dù gì cũng hoan nghênh những "ý tưởng mới" của bạn.
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn nguyễn xuân công [bachlang] lúc 17:36 04/03/2010
Theo thuyết tương đối thì một vật đứng yên chỉ là tương đối, vận tốc của một vật cũng là tương đối,không thể xác định vật nào nhanh hơn vật nào. giả sử có 4 vật thể A,B,C,D.
Nếu lấy D 1 mốc cố định. Vật C chuyển động so với D 1 vận tốc 1km/h. B chuyển động ngược chiều với D với vận tốc 4km/h và A chuyển động cùng chiều với C với vận tốc 4km/h.

nếu xét D là mốc cố định thì ta thấy time của A= time B, và time C < time A. và time D trôi qua nhanh nhất do vận tốc D=0.

nhưng nếu lấy C là mốc. => time của C trôi nhanh nhất, A chuyển động với v = 3km/h so với C và B chuyển động với v= 5km/h so với C. Vậy lúc này time của từng vật sẽ thế nào ???

=> theo ý kiến của mình thì có thể có 2 trường hợp
1, thuyết tương đối hẹp về co giãn của thời gian không hợp lý
2, hoặc "thời gian" không phải là một trường duy nhất tồn tại, đối với mỗi hệ quy chiếu khác nhau sẽ có một thời gian khác nhau ( ví dụ hệ quy chiếu lấy C với D là khác nhau ) ...và nếu xét như vậy thì số lượng các trường thời gian là vô cực..
:)
mình vẫn thích trường hợp 1 hơn
 Phàn nàn
Gửi bởi Bạn Le Minh Ngoc [LeMinhNgoc] lúc 18:14 05/03/2010
Chào các bạn,
Gửi bạn Nguyễn Xuân Công:
Xin phép được tham gia một ý kiến nhỏ vì khái niệm của bạn về TTĐH (thuyết tương đối hẹp) không giống tôi lắm.
- Hình như khái niệm thời gian trong TTĐH không phải là một trường mà là một chiều đo, nó cùng với 3 chiều đo của không gian tạo thành một hệ toạ độ không - thời gian.
- Từ ý tưởng vận tốc ánh sáng là không đổi đối với mọi vật nên suy ra người quan sát (hay còn gọi là hệ toạ độ qui chiếu) sẽ thấy thời gian và kích thước của vật quan sát theo chiều chuyển động luôn thay đổi theo chuyển động tương đối giữa vật và người quan sát, chứ không phải thời gian của người quan sát thay đổi.
Như vậy kết luận của bạn phải là:
1- Tại các hệ qui chiếu khác nhau, người quan sát sẽ thấy thời gian của cùng (một) vật quan sát là khác nhau.
2- Tại cùng (một) hệ qui chiếu, người quan sát thấy thời gian của các vật quan sát khác nhau là khác nhau.
Theo tôi hình như bạn nhầm người quan sát (là nơi luôn luôn có toạ độ không - thời gian cố định - chính thế nên mới gọi nó là HQC) với vật quan sát.
Chúc các bạn mạnh khoẻ.
 Phàn nàn
Trang: 1 | 2 | 3 | 4
Tất cả có 34 phản hồi nằm trong 4 trang, mỗi trang 10 bài
Những chuyện kỳ bí