Nội dung chính bài Gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt
32 lượt xem
Phần tham khảo mở rộng
Câu 1: Trình bày những nội dung chính trong bài: "Gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt ". Bài học nằm trong chương trình ngữ văn 12 tập 1.
Bài làm:
Nội dung bài gồm:
A. Ngắn gọn những nội dung chính
1. Ngắn gọn kiến thức trọng tâm
- Muốn giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt chúng ta cần: diễn đạt đủ và đúng và chuẩn mực, và quy tắc trong tiếng việt, chuẩn mực không phủ nhận những sự chuyển đổi linh hoạt và sáng tạo, không phủ nhận cái mới.
- Miễn là nó sáng tạo và không sai quy tắc của câu, cái mới luôn cần phải phù hợp với quy tắc chung, những điều đó tạo nên sự phong phú cho sự phong phú của tiếng việt.
B. Nội dung chính cụ thể
I. Sự trong sáng của tiếng Việt.
- Nói và viết: nên viết đúng chuẩn mực, viết cần phải đúng chuẩn mực, ngược lại có nhiều người lại nói và viết sai đó là sai quy tắc về chuẩn mực về tiếng việt.
- Diễn đạt: đủ nội dung, cần đủ ý, không diễn đạt đủ ý hoặc trình bày sai quy tắc thì dẫn đến sai chuẩn mực và mất đi sự trong sáng của tiếng việt.
- Muốn giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt chúng ta cần: diễn đạt đủ và đúng và chuẩn mực, và quy tắc trong tiếng việt, chuẩn mực không phủ nhận những sự chuyển đổi linh hoạt và sáng tạo, không phủ nhận cái mới.
- Miễn là nó sáng tạo và không sai quy tắc của câu, cái mới luôn cần phải phù hợp với quy tắc chung, những điều đó tạo nên sự phong phú cho sự phong phú của tiếng việt.
2. Sự trong sáng không dung nạp tạp chất.
- Sự trong sáng của tiếng việt là không pha tạp những yếu tố lai căng, pha tạp trong khi vẫn dung nạp những yếu tố tích cực và không mất đi sự trong sáng của tiếng việt.
- Sự trong sáng chúng ta nên giữ những phẩm chất đẹp đẽ của tiếng việt nhưng cũng cần vay mượn để làm tăng lên từ vựng và phong phú trong ngữ pháp của tiếng việt.
- Sự trong sáng của tiếng Việt còn biểu hiện ở tính văn hóa, lịch sự của lời nói:
- Ngày nay dường như vấn đề phát ngôn cần phải được quan tâm hơn bởi lẽ lứa trẻ hiện nay hay có tục chửi bậy, ăn nói thiếu văn hóa..
3. Sự trong sáng của tiếng Việt còn biểu hiện ở tính văn hóa, lịch sự của lời nói:
- Ngày nay dường như vấn đề phát ngôn cần phải được quan tâm hơn bởi lẽ lứa trẻ hiện nay hay có tục chửi bậy, ăn nói thiếu văn hóa..
- Sự trong sáng trong lời nói chính là thể hiện vẻ thanh lịch, nét văn hóa của con người
- Trong dân gian người xưa cũng có rất nhiều những câu dăn dạy về cách ăn nói: “lời nói không mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau…”.
Ví dụ: Các từ ngữ Nguyễn Du và Hoài Thanh nói về các nhân vật rất chuẩn xác vì miêu tả đúng diện mạo hoặc lột tả được tính cách nhân vật.
- Kim Trọng: rất mực chung tình
- Thuý Vân: cô em gái ngoan
- Hoạn Thư: người đàn bà bản lĩnh khác thường, biết điều mà cay nghiệt
- Thúc Sinh: sợ vợ
Xem thêm bài viết khác
- Soạn văn bài: Đất nước (Nguyễn Đình Thi)
- Quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật của Hồ Chí Minh? Chứng minh mối quan hệ...
- Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng cất lên “Nghe như ngậm nhạc trong miệng” Phân tích bài thơ Tây Tiến để làm rõ ngòi bút nghệ thuật của Quang Dũng.
- Trong bài thơ, cái tôi của tác giả thời tuổi nhỏ được tái hiện như thế nào? Nét quen thuộc và mới mẻ trong cách nhìn của tác giả về chính mình trong quá khứ?
- Soạn văn hay: Gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt (Trang 30 34 SGK)
- Từ câu “Cuối cùng vào thời điểm…”, các hình ảnh so sánh, những ẩn dụ cho tới cuối cùng đoạn trích đều quy tụ về một thế giới như thế nào? Qua đó, Xvai-gơ muốn nói lên những gì về sứ mạng, về tầm vóc của Đô-xtôi-ép-xki?
- Soạn văn hay: Tuyên ngôn đọc lập (Phần một: Tác giả)
- Nội dung chính bài Gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt
- Những nét chính về quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm đó giúp anh/chị hiểu sâu sắc thêm văn thơ của Người như thế nào?
- Những điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật của các bài thơ Dọn về làng (Nông Quốc Chấn), Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên), Đò Lèn (Nguyễn Duy), Bác ơi! (Tố Hữu)
- Nội dung chính bài Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận
- Nội dung chính bài Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX