Bộ lưỡng bội NST của một loài sinh vật 2n = 24.
Câu 8 (chương 1): Trang 66 - sgk Sinh học 12
Bộ lưỡng bội NST của một loài sinh vật 2n = 24.
a. Có bao nhiêu NST được dự đoán ở thể đơn bội, thể tam bội và thể tứ bội?
b. Trong các dạng đa bội trên, dạng nào là đa bội lẻ, dạng nào là đa bội chẵn?
c. Nếu cơ chế hình thành các dạng đa bội trên.
Bài làm:
Theo đề ra, 2n = 24 → n = 12. Vì vậy, ta có:
a. Số lượng NST được dự đoán ở:
- Thể đơn bội n = 1 X 12 = 12.
- Thể tam bội 3n = 3 X 12 = 36.
- Thể tứ bội 4n = 4 X 12 = 48.
b. Trong các dạng đa bội trên, tam bội là đa bộ lẻ, tứ bội là đa bội chẵn.
c. Cơ chế hình thành
- Thể tam bội được hình thành do sự kết hợp các giao tử 2n với giao tử n bình thường trong thụ tinh (2n + 1n → 3n).
- Thể tứ bội có thể hình thành nhờ:
- Nguyên phân: Trong lần nguyên phân đẩu tiên của hợp tử 2n, các NST đã tự nhân đôi nhưng không phân li dẫn đến hình thành thể tứ bội 4n.
- Giảm phân và thụ tinh: Trong quá trình phát sinh giao tử, sự không phân li của tất cả các cặp NST tương đồng dẫn đến hình thành giao tử 2n.
Thụ tinh: 2n + 2n → 4n.
Xem thêm bài viết khác
- Ánh sáng mặt trời có vai trò như thế nào đối với hệ sinh thái?
- Lấy 2 ví dụ về các ổ sinh thái. Nêu ý nghĩa của việc phân hóa ổ sinh thái trong các ví dụ đó
- Có thể dùng những phép lai nào để xác định khoảng cách giữa 2 gen trên NST? Phép lai nào hay được dùng hơn? Vì sao?
- Giải bài 10 sinh 12: Tương tác gen và tác động đa hiệu của gen
- Nêu đặc điểm di truyền của quần thể ngẫu phối
- Giải câu 2 bài 17 Sinh học 12 trang 73
- Nói: Cô ấy được mẹ truyền cho tính trạng "má lúm đồng tiền" có chính xác không? Nếu cần thì phải sửa lại câu nói này như thế nào?
- Tại sao ưu thế lai cao nhất ở F1 và giảm dần ở đời sau?
- Tại sao quần đảo lại được xem là phòng thí nghiệm nghiên cứu quá trình hình thành loài mới?
- Hãy nêu các ví dụ về quan hệ hỗ trợ và quan hệ cạnh tranh giữa các cá thể trong quần thể
- Từ quần thế cây 2n người ta tạo ra được quần thể cây 4n quần thể cây 4n có thể xem là một loài mới, vì sao?
- Giải bài 25 sinh 12: Học thuyết Lamac và học thuyết Đacuyn